VIDEO: Làng Cự Đà - giữ hồn làng cổ qua những sợi miến dong truyền thống

(NLĐO) - Làng Cự Đà (Hà Nội) không chỉ lưu giữ kiến trúc hàng trăm năm tuổi, mà còn bền bỉ gìn giữ nghề làm miến dong truyền thống giữa nhịp sống hiện đại.

Cách trung tâm Hà Nội chừng 20 km - làng Cự Đà nằm bên hữu ngạn sông Nhuệ, thuộc xã Bình Minh, Hà Nội (xã Cự Khê, huyện Thanh Oai cũ). Làng hình thành từ thế kỷ XVII, xưa mang tên Ngô Khê, thuộc xã Hạ Thanh Oai, tổng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam Thượng.

Làng Cự Đà - giữ gìn nghề làm miến dong truyền thống giữa nhịp sống hiện đại - Ảnh 1.

Chùa Cự Đà hay còn gọi là Linh Minh Tự, được nhà nước xếp hạng Di tích quốc gia năm 2000. Ngôi chùa được xây dựng từ bao giờ đến nay không còn ai còn nhớ, chỉ biết rằng văn bia còn ghi lại mùa xuân niên hiệu Chính Hòa thứ 16 thời Hậu Lê (1695) chùa được trùng tu lần đầu tiên. Đến mùa thu năm Tự Đức thứ 32 thời Nguyễn (1879), chùa được trùng tu lại với quy mô lớn hơn trước gồm năm gian tiền đường, ba gian hậu cung do Đại sư Thích Tịnh Đoan chủ trì việc hưng công.Năm 2000, chùa Cự Đà được nhà nước xếp hạng Di tích Quốc gia. Ảnh: Hải Anh

Theo sử liệu, giai đoạn hưng thịnh nhất của Cự Đà diễn ra từ khoảng năm 1890 đến 1945, khi nơi đây trở thành trung tâm buôn bán và trao đổi hàng hóa của cả vùng. Với lịch sử hơn 400 năm, Cự Đà nổi tiếng bởi nghề làm tương, miến dong, đặc biệt là nét kiến trúc đặc sắc, hòa quyện giữa những ngôi nhà Việt cổ và các ngôi nhà mang phong cách Pháp, hình thành trong thời kỳ Pháp thuộc.

Kỳ lạ làng cổ phong lưu

Làng có ba cổng cái (cổng chính). Toàn bộ không gian cư trú được quy hoạch theo dạng xương cá, từ trục đường chính tỏa ra hàng chục ngõ nhỏ dẫn vào 12 xóm. Lối vào mỗi xóm đều có cổng vòm mái cong, hai bên đặt câu đối chữ Hán. Đặc sắc nhất ở Cự Đà là hệ thống nhà cổ với nhiều loại hình còn được bảo tồn đến nay, phổ biến như nhà ba gian hai dĩ hoặc năm gian hai dĩ.

Những con ngõ lát gạch đỏ, những bức tường phủ rêu, những nếp nhà cổ xen lẫn biệt thự kiểu Pháp tạo nên diện mạo đặc biệt cho vùng quê từng một thời phồn thịnh.

Làng Cự Đà - giữ gìn nghề làm miến dong truyền thống giữa nhịp sống hiện đại - Ảnh 2.
Làng Cự Đà - giữ gìn nghề làm miến dong truyền thống giữa nhịp sống hiện đại - Ảnh 3.

Làng Cự Đà có ba cổng cái (cổng chính). Toàn bộ không gian cư trú được quy hoạch theo dạng xương cá, từ trục đường chính tỏa ra hàng chục ngõ nhỏ dẫn vào 12 xóm. Lối vào mỗi xóm đều có cổng vòm mái cong, hai bên đặt câu đối chữ Hán.

Làng Cự Đà - giữ gìn nghề làm miến dong truyền thống giữa nhịp sống hiện đại - Ảnh 4.

Những mái ngói rêu phong theo thời gian ở làng Cự Đà. Ảnh: Hải Anh

Không chỉ nổi tiếng bởi giá trị kiến trúc, Cự Đà còn được biết đến như cái nôi của nghề làm tương và miến dong truyền thống. Qua nhiều thế hệ, nghề ấy vẫn được người dân lặng lẽ gìn giữ như một phần máu thịt của làng quê.

Làng Cự Đà - giữ gìn nghề làm miến dong truyền thống giữa nhịp sống hiện đại - Ảnh 5.
Làng Cự Đà - giữ gìn nghề làm miến dong truyền thống giữa nhịp sống hiện đại - Ảnh 6.
Làng Cự Đà - giữ gìn nghề làm miến dong truyền thống giữa nhịp sống hiện đại - Ảnh 7.
Làng Cự Đà - giữ gìn nghề làm miến dong truyền thống giữa nhịp sống hiện đại - Ảnh 8.

Đặc sắc ở Cự Đà là hệ thống nhà cổ với nhiều loại hình còn được bảo tồn đến nay, phổ biến như nhà ba gian hai dĩ hoặc năm gian hai dĩ. Ảnh: Hải Anh

Cự Đà còn nổi tiếng với hai nghề truyền thống còn duy trì đến hôm nay là làm tương và làm miến. Từ xa xưa tương Cự Đà đã nức tiếng qua câu ca: "Anh đi anh nhớ quê nhà/Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương/Cách sông, cách nước thì thương/Cách quê, cách quán nhớ tương Cự Đà".

Với nghề làm miến, chẳng ai còn nhớ nghề này có từ khi nào, chỉ biết rằng nó đã nuôi sống bao thế hệ người dân nơi đây. Những mẻ miến làm từ củ dong riềng khi phơi lên sẽ có màu vàng óng tự nhiên, dai, thơm, đặc biệt không nát khi nấu. Miến Cự Đà vì thế mà nổi tiếng khắp Hà Nội và lan rộng nhiều vùng miền khác.

Những ngày nắng, khắp các ngõ xóm trong làng phủ đầy sắc vàng óng của miến đang phơi. Từng phên miến xếp ngay ngắn trước sân nhà đã trở thành hình ảnh quen thuộc, phản ánh nhịp sống cần mẫn của người dân làng nghề.

Làng Cự Đà

Miến Cự Đà từ lâu nổi tiếng bởi sợi dai, thơm, màu hổ phách đặc trưng và không nát khi nấu. Để tạo ra thành phẩm ấy, người làm nghề phải trải qua nhiều công đoạn tỉ mỉ từ lọc bột, tráng bánh, cắt sợi đến phơi khô. Mỗi mẻ miến là kết quả của sự công phu, kinh nghiệm và cả sự phụ thuộc vào thời tiết.

Hơn 30 năm nay, gia đình ông Đức (73 tuổi) là một trong những hộ dân vẫn gắn bó bền bỉ với nghề làm miến dong truyền thống ở Cự Đà. Giữa không gian nhà đầy những phên miến, ông Đức chia sẻ bằng giọng chậm rãi: "Nghề này cực nhưng quen rồi. Mình làm không chỉ để có thu nhập mà còn để giữ nghề của cha ông. Nếu mình bỏ thì nghề truyền thống của gia đình cũng mất".

Làng Cự Đà - giữ gìn nghề làm miến dong truyền thống giữa nhịp sống hiện đại - Ảnh 9.

Nhiều hộ dân vẫn gắn bó bền bỉ với nghề làm miến dong truyền thống ở làng Cự Đà. Miến Cự Đà từ lâu nổi tiếng bởi sợi dai, thơm, màu hổ phách đặc trưng và không nát khi nấu. Ảnh: Hải Anh

Với ông Đức, nghề làm miến dong không đơn thuần là kế sinh nhai mà còn là gìn giữ nghề tổ. Bên cạnh ông, bà Hiền - vợ ông - vẫn đều tay trở miến. Bà nói: "Làm nghề này phụ thuộc vào nắng mưa. Có hôm mới phơi được một lúc trời chuyển mưa là cả nhà phải chạy đi gom miến. Vất vả nhưng bỏ nghề thì tiếc lắm".

Những lời nói mộc mạc ấy phản ánh tình yêu nghề bền bỉ của những người dân làng nghề. Trong guồng quay của đời sống hiện đại, họ vẫn kiên trì với công việc vất vả để giữ lại nghề xưa.

Làng Cự Đà - giữ gìn nghề làm miến dong truyền thống giữa nhịp sống hiện đại - Ảnh 10.
Làng Cự Đà - giữ gìn nghề làm miến dong truyền thống giữa nhịp sống hiện đại - Ảnh 11.
Làng Cự Đà - giữ gìn nghề làm miến dong truyền thống giữa nhịp sống hiện đại - Ảnh 12.
Làng Cự Đà - giữ gìn nghề làm miến dong truyền thống giữa nhịp sống hiện đại - Ảnh 13.
Làng Cự Đà - giữ gìn nghề làm miến dong truyền thống giữa nhịp sống hiện đại - Ảnh 14.

Với nhiều người dân Cự Đà, nghề làm miến dong không đơn thuần là kế sinh nhai mà còn là gìn giữ nghề Tổ. Ảnh: Hải Anh

Tuy nhiên, việc duy trì nghề truyền thống ở Cự Đà hiện nay không dễ dàng. Theo người dân địa phương, chi phí nguyên liệu tăng, thời tiết thất thường, đầu ra bấp bênh khiến việc sản xuất ngày càng khó khăn. Trong khi đó, lớp trẻ ít còn mặn mà với nghề thủ công vốn nhiều vất vả nhưng lợi nhuận không cao.

"Người trẻ giờ có nhiều công việc khác, ít ai muốn theo nghề này. Chúng tôi vẫn cố giữ, nhưng tương lai nghề ra sao thì cũng lo" - ông Đức trăn trở. Quả thực, nỗi lo ấy không chỉ của riêng gia đình ông Đức mà là câu chuyện chung của nhiều hộ dân ở Cự Đà.

Bên cạnh áp lực giữ nghề là áp lực bảo tồn không gian làng cổ. Dưới tác động của đô thị hóa, nhiều ngôi nhà cổ xuống cấp, kiến trúc làng truyền thống dần bị thu hẹp. Nếu không có sự gìn giữ đúng mức, cả giá trị vật thể lẫn phi vật thể của Cự Đà đều có nguy cơ mai một.